NỘI DUNG - HOẠT ĐỘNG
THÔNG TIN BỔ ÍCH
WEBSITE LIÊN KẾT
SƠ ĐỒ ĐƯỜNG ĐI
LƯỢT TRUY CẬP
12615803
LỊCH SỬ
  • Lý Thường Kiệt- thân thế và sự nghiệp
    • tải xuống“Ông là người giàu mưu lược, có biệt tài làm tướng súy, làm quan trải thờ ba đời vua, phá Tống, bình chiêm, công lao đức vọng ngày một lớn, được vua sung ái, là người đứng đầu các bậc công hầu vậy”



    • LÝ THƯỜNG KIỆT ( 1019 – 1105 )
      “Ông là người giàu mưu lược, có biệt tài làm tướng súy, làm quan trải thờ ba đời vua, phá Tống, bình chiêm, công lao đức vọng ngày một lớn, được vua sung ái, là người đứng đầu các bậc công hầu vậy”

      Phan Huy Chú

      ( Lịch triều hiến chương loại chí)

      tải xuống

       

        1.Thân thế và sự nghiệp:

      Lý Thường kiệt là một nhân vật lịch sử kiệt xuất của dân tộc Việt Nam hồi thế kỷ XI, ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ và bà Hàn Diệu Chi, người làng An Xá, huyện Quảng Đức (nay là làng Cơ Xá, Gia Lâm Hà Nội).

      Đúng như Phan Huy Chú nói, Lý Thường Kiệt là “ người đứng đầu các bậc công hầu” của triều Lý. Nhưng ông không phải là người họ Lý chính tông, vốn người họ Ngô, tên húy là Tuấn. Ngô Tuấn tự là Thường Kiệt, sau vì có công, được vua sung ái nên được ban quốc tính ( tức lấy họ của vua). Sau này, khi có danh vọng lớn trong triều, ông cùng gia đình dời nhà về phường Thái Hòa, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long ( nay là Hà Nội). Vì vậy mà hậu thế chỉ biết đến tên gọi là Lý Thường Kiệt, ít ai biết đến ho và tên thật của ông.

      Lý Thường Kiệt sinh năm Kỷ Mùi 1019, tức năm Thuận Thiên thứ 10, đời vua Lý Thái Tổ ( 1010 – 1028), sinh ra trong gia đình có truyền thống học hành và làm quan. Thủa nhỏ ông rất thông minh, chăm đọc sách binh thư, chăm luyện tập võ nghệ và ông có một người em trai là Thường Hiển. Năm ông 13 tuổi (1031) cha mất, năm 18 tuổi (1036) mẹ ông cũng qua đời. Ông được chồng của cô giúp đỡ nên  quyết tâm học võ và học chữ để làm rạng danh cho đất nước và gia đình.  Sử cũ chép rằng, lúc còn trẻ, ông là người có vẻ mặt ‘tươi đẹp lạ thường”, nên năm 23 tuổi được tuyển làm Hoàng Môn Chi Hậu ( tức là một hoạn quan nhỏ trong triều). Nhưng cũng từ đây, Lý Thường Kiệt bắt đầu một quá trình lâu dài và liên tục.

      Lý Thường Kiệt làm quan trải thờ ba đời vua là Lý Thái Tông ( 1028 – 1054), Lý Th ái Tông ( 1054 – 1072) và Lý Nhân Tông ( 1072 – 1127). Từ một chức hoạn quan nhỏ Lý Thường Kiệt được thăng dần đến chức Phụ Quốc Thái Phó, Dao Thụ Chư Trấn Tiết Độ, Đồng Trung Thư Môn Hạ, Thượng Trụ Quốc, Hà Thái Úy, Tước Khai Quốc Công và được nhận làm Thiên Tử Nghĩa Đệ ( em kết nghĩa của Thiên Tử).

      Sinh thời Lý Thường Kiệt có ba cống hiến lớn. Một là, không ngừng nêu cao tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết vì nghĩa cả, không ngừng nêu cao phẩm giá trung quân ái quốc của các bậc đại thần khi vận nước lâm nguy cũng như non sông được thái bình.  Hai là, góp phần đắc lực cùng vua và triều đình trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đặc biệt là góp phần củng cố sức mạnh của guồng máy nhà nước đương thời. Ba là, vạch kế hoạch chiến lược và trực chỉ huy những trận đánh lừng danh nhất của thế kỷ XI, đập tan hoàn toàn mưu đồ xâm lăng nguy hiểm và xảo quyệt của quân Tống, bảo vệ vững chắc nền độc lập của nước nhà. Trong thời gian khoảng hơn chục năm sau khi Lý Thánh Tông qua đời ( 1069 ), Lý Thường Kiệt thực sự là linh hồn của đất nước, là người chịu trách nhiệm lớn nhất trong sự nghiệp điều khiển vận mệnh quốc gia. Ở một chừng mực nào đó, cũng có thể nói rằng, Lý Thường Kiệt gần như vua của nước nhà trong giai đoạn khó khăn nhất của đất nước ở thế kỷ XI.

      Về mặt văn hóa, Lý Thường Kiệt cũng đã có những đóng góp to lớn. Ông đã để lại cho đời một số áng văn thơ, trong đó nổi bật bài thơ tứ tuyệt không đề, được hậu thế chọn bốn câu thơ đầu làm đề để dễ truyền tụng, đó là bốn chữ Nam quốc sơn hà. Nam quốc sơn hà là một trong những áng thiên cổ hùng văn, có giá trị như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước nhà, và bài hịch Phạt Tống lộ bố văn ( bài văn công bố đánh giặc Tống).

      Lý Thường Kiệt qua đời vào tháng sáu năm Ất Dậu (1105) thọ 86 tuổi. khi mất được phong tặng Kiểm hiệu Thái úy bình chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công, được lập đền thờ ở nhiều nơi. Điều đáng nói là trước khi qua đời một năm ( năm 1104, tức là năm đã 85 tuổi), Lý Thường Kiệt vẫn còn là một tướng tổng chỉ huy quân đội, đã đánh và đánh thắng một trận rất lớn ở phía Nam đất nước.

      Năm 1126 ( tức là 23 năm sau khi Lý Thường Kiệt qua đời) nhà sư Thích Pháp Bảo có soạn bài Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh ( khắc trên bia, đặt ở chùa Linh Xứng), trong đó có đoạn:         Việt hữu Lý công,

                                                      Cổ nhân chuẩn thức.

                                                      Mục quận lý ninh,

                                                     Chưởng sự tất khắc.

                                                     Danh dương hàm hạ,

                                                     Thanh trấn hà vực.

         Dịch nghĩa là:

           Nước Việt có người họ Lý,

          Theo đúng phép của người xưa.

          Đã cầm quân là tất thắng lợi,

          Đã trị nước thì dân được yên.

                                                     Danh lẫy lừng thiên hạ,

                                                     Tiếng vang khắp xa gần.

          Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự kiệt xuất, có tài thao lược lỗi lạc, phá Tống, bình Chiêm, đánh đâu thắng đấy. Ông cũng là một nhà chính trị tài giỏi và ngoại giao xuất sắc. Ông là một nhân cách lớn. Văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn đã ca ngợi ông như sau: “ Làm việc thì siêng năng, điều khiển dân thì đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan hòa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Dùng uy vũ để trừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả”.

      Vậy,  Lý Thường Kiệt là một anh hùng bậc nhất của đời lý mà tên tuổi và sự nghiệp vẫn sáng chói mãi trong lịch sử vinh quang của dân tộc.

         2. Lý Thường Kiệt với trận quyết chiến chiến lược Nh ư Nguyệt ( mùa xuân năm 1077):

      Vào khoảng giữa thế kỷ thứ XI, bởi những cuồng vọng của nhà Tống, một lần nữa, vận nước lại lâm nguy. Triều Lý và Đại Việt chỉ có thể tồn tại và phát triển khi giành được toàn thắng trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lăng.

      Bấy giờ ở Trung Quốc triều Tống đang điêu đứng bởi một loạt những mâu thuẫn và xung đột khá gay gắt, nhất là những cuộc xung đột triền miên với Đại Liêu và Tây Hạ đã khiến cho tiềm lực của nhà Tống ngày một yếu hẳn đi. Trong khi đó triều nhà Tống còn  phải đối phó với không ít những khó khăn khác. Trước hết, triều đình nhà Tống vẫn ôm mối hận thất bại nước ta năm 981. Ngoài ra, triều Tống còn phải đối phó với hàng loạt vấn đề phức tạp khác, như: sự chia bè kết cánh của giai cấp thống trị, những cuộc nổi dậy đấu tranh của nhân dân Trung Quốc đương thời.

      Trước tình hình đó,nhà Tống cần có một nhà cải cách để đưa nhà Tống thoát khỏi bế tắc trên và nhà cải cách đó đã xuất hiện đó là Vương An Thạch. Vương An Thạch là một trong đại danh nho của Trung Quốc đời Tống.

       

      Ông cũng là một trong số không nhiều những nhà cải cách táo bạo và có tầm vóc lớn ở Trung Quốc đã khuyên vua Tống đem quân xâm lược nước ta: “ Nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu, Hạ sẽ phải kiềng nể”. Thực hiện chiến lược Tiền Nam hậu Bắc,  đó là tư tưởng chủ đạo đặt nền tảng cho kế hoạch chuẩn bị xâm lược nước ta.

      Về mặt quân sự, nhà Tống có chủ trương huy động một lực lượng mạnh, đủ để áp đảo Đại Việt, lực lượng đó phải quen với chiến trường, địa hình, cũng như quân đội của nhà Lý. Để khắc phục tình trạng này, nhà Tống cho lập ba căn cứ quân sự lớn ở Châu Ung, Châu Khâm và Châu Liêm.

      Về mặt chính trị, nhà Tống chủ trương tìm mọi cách để phá vỡ khối doàn kết của nhân dân ta, mua chuộc, lôi kéo các tù trưởng ở biên giới và các dân tộc ít người. Đây là âm mưu phá từ ngoài vào, lợi dụng vết rạn nứt trong khối đoàn kết  nội bộ có âm mưu phá từ trong ra.

      Về mặt ngoại giao, tìm đủ nọi cách để bao vây và cô lập nước ta, sứ giả của chúng liên tiếp đến các vương quốc chung quanh ta, đêm ngày tính kế chia rẽ và xúi giục họ phối hợp hành động với quân Tống. Và nhà Tống đã thành công ở Chiêm Thành, vua Chiêm Thành đã không ngừng cho quân quấy phá, làm cho biên giới mặt Bắc lẫn mặt Nam trở nên căng thẳng. Đại Việt đã bị dồn ép bởi hai gọng kìm quân sự từ hai phía Nam và Bắc.

      Nhưng điều may mắn cho đất nước lúc bấy giờ là triều Lý sớm nhận ra sự cuồng vọng với âm mưu xảo quyệt của nhà Tống đối với nước ta. Hai nhân vật có công lớn nhất trong việc phát hiện mưu đồ của kẻ thù và chủ động tiến hành các biện pháp chuẩn bị đối phó là vua Lý Thánh Tông và Lý Thường kiệt. Tuy nhiên, vì vua Lý Thánh Tông qua đời khi công việc chuẩn bị đối phó đang dang dở, vua nối nghiệp là Lý Nhân Tông mới 7 tuổi còn rất trẻ, nên trọng trách lớn đều chủ yếu do Lý Thường Kiệt đảm nhận.

      Về chính trị, Lý Thường Kiệt chủ trương nhanh chóng khôi phục và củng cố khối đoàn kết dân tộc.

      Về quân sự, Ông vạch ra ba chủ trương lớn và thực hiện thắng lợi những chủ trương này.

      Chủ trương thứ nhất là tấn công vào Chiêm Thành, phá vỡ kế hoạch lợi dụng Chiêm Thành của nhà Tống, vì chỉ khi nào  biên giới phía Nam thực sự yên ổn thì Đại Việt mới vững vàng đối phó với quân Tống hung mạnh ở phía Bắc.

      Chủ trương thứ hai là táo bạo tấn công vào Châu Ung, Châu Khâm và Châu Liêm, tiêu diệt một bộ phận quan trọng trong tiềm năng xâm lăng của nhà Tống, với câu nói bất hủ của Lý Thường Kiệt là: “ Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc”

      Chủ trương thứ ba là nhanh chóng xây dựng chiến tuyến sông Cầu sẵn sang đón quân Tống xâm lăng trong bất kỳ tình huống nào.Một lần nữa Lý Thường Kiệt vừa là người vạch kế hoạch, vừa là người trực tiếp chỉ huy một cách xuât sắc.

      Chiến tuyến được ở phía Nam sông Cầu chặn ngang tất cả các ngả đương bộ từ Quảng Tây của Trung Quốc vào  Thăng Long, được lợi dụng như một chiến hào tự nhiên rất khó có thể vượt qua.

       

      Chiến tuyến được đắp dọc theo khúc sông từ Đa Phúc đến Phả Lại, dài ngót 100 cây số. Khúc sông nàycòn có tên gọi khác là sông Như Nguyệt, chiến tuyến này vì thế còn gọi là chiến tuyến Như Nguyệt. Đây là chiến tuyến lớn đầu tiên trong lịch sử chống xâm lăng của dân tộc. Đây cũng là công trình quân sự lớn, thể hiện quyết tâm lớn, niềm tự tin lớn và bản lĩnh vững vàng của quân dân Đại Việt.Và, đây cũng là chứng tích hung hồn về tài năng quân sự của Lý Thường Kiệt.

      Sau khi đắp xong chiến tuyến, Lý Thường Kiệt lập tức huy động quân sỹ đến đóng giữ ở các vị trí chiến lược. Từ đây quân dân Đại Việt đã hoàn toàn trong tư thế sẵn sang. Nói cách khác là khả năng thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc đã thể hiện một cách rất rõ rang ngay trong quá trình chuẩn bị vừa khẩn trương và nghiêm túc, vừa quyết tâm và sáng tạo.

      Tuy mưu đồ lợi dụng Chiêm Thành đã bị đập tan, phần tiềm lực xâm lăng chuẩn bị công phu ở Châu Ung, Châu Khâm và Châu Liêm cũng bị triệt hạ, nhà Tống vẫn quyết chí xâm lược nước ta. Vua Tống sai Quách Quỳ làm tổng chỉ huy, Triệu Tiết là phó tướng cung 100.000 bộ binh tinh nhuệ, 10.000 ngựa chiến, cùng 200.000 dân phu. Ngoài ra, còn them một đạo binh nhỏ tiến vào nước ta qua ngả vịnh Hạ Long, nhằm hiệp đồng ứng phó với bộ binh.

      Về quân đội Đai Việt được Lý Thường Kiệt sắp đặt cụ thể như sau:

      Thủy binh Đại Việt được chia làm hai bộ phận. Bộ phận chính do hai Hoàng Tử Hoằn Chân và Chiêu Văn chỉ huy, gồm 400 chiến thuyền và 20.000 quân, đóng ở Vạn Xuân là cực Đông của chiến tuyến.Bộ phận thứ hai do Lý Kế Nguyên chỉ huy chốt giữ ở cửa sông Bạch Đằng, sẵn sang ứng chiến với đạo quân thủy binh của quân Tống.

      Bộ binh Đại Việt cũng được chia làm hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất đóng rải rác trên các chiến tuyến. Bộ phận thứ hai đích thân do Lý Thường Kiệt cầm đầu, đóng ở Yên Phụ nằm ở phía Nam của chiến tuyến, cách chiến tuyến khoảng 5 cây số. Từ địa điểm này Lý Thường Kiệt dễ dàng theo dõi và đối phó một cách linh hoạt với mọi tình hình diễn ra dọc chiến tuyến.

      Ngày mùng 8 tháng 1 năm 1077, đại quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy đã vượt ải chi lăng tiến vào nước ta. Đến ngày 18 tháng 1 năm 1077, quân Tống tiến đến bờ Bắc sông Cầu. Chúng lúng túng vì bên kia sông Cầu là chiến tuyến rất kiên cố. Bấy giờ, thủy binh của giặc bị Lý Kế Nguyên chặn đánh liên tiếp 10 trận ở vùng Đông Bắc, khiến cho giặc không thể tiến sâu hỗ trợ cho bộ binh. Cho nên, Quách Quỳ và Triệu Tiết đành phải hạ trại ở bờ Bắc sông Cầu để tính kế.

       

      Thuộc tướng của Quách Quỳ và Triệu Tiết là Mưu Lý xin bắc cầu phao vượt sông. Quách Quỳ và Triệu Tiết chấp thuận và giao cho tướng Vương Tiến chỉ huy bắc cầu, còn Mưu Lý dẫn 2.000 quân bất ngờ tấn công đột phá đầu tiên vào chiến tuyến và chọc thủng một đoạn của chiến tuyến, tiến xuống phía Nam. Một số ít các trại lính của ta đóng dọc theo chiến tuyến bị nao núng và Lý Thường Kiệt xuất hiện như một thiên tài về nghệ thuật động viên binh sỹ, Ông đã viết bài Nam quốc sơn hà và sai người vào đền thờ Trương Hống và Trương Hát đọc to lên trong tối, khiến quân sỹ ngờ rằng đó là thần sông núi, cho nên, đã liều mình chiến đấu, đập tan hoàn toàn đạo quân hung hãn của Mưu Lý, Chiến tuyến được củng cố, cầu phao của giặc bị chặt đứt, sỹ khí của quân đội Đại Việt lại bừng lên mạnh mẽ. Nam quốc sơn hà quả là một kiệt tác, cho dẫu là nhìn từ bất cứ góc độ nào:

      images

      Dịch nghĩa:

      Sông núi nước Nam, vua Nam ở
      Rành rành đã định ở Sách Trời
      Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
      Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời

       

      LƯỢC ĐỒ CHIẾN TUYẾN SÔNG NHƯ NGUYỆT

      Ly-Thuong-Kiet-1

      Sau khi thất bại quân Tống phải đóng ở bờ Bắc sông Cầu. Chúng chia làm hai khối lớn. Khối thứ nhất do đích than Quách Quỳ cầm đầu. Khối thứ hai do Triệu Tiết cầm đầu. Hai khối này án binh bất động, quyết chờ thủy binh tới.

      Mùa xuân trôi đi, quân Tống càng lún sâu vào thế bị động. Chúng muốn vượt sông nhưng không vượt được, chúng muốn đánh một trận quyết định với Đại Việt nhưng quân Đại Việt lại ở bờ Nam chưa xuất đầu lộ diện.

      Trước tình thế khốn quẫn của quân Tống, Lý Thường Kiệt hạ lệch tấn công. Trước hết, hai vị Hoàng Tử Hoàng Chân và Chiêu Văn bất ngờ đánh mạnh vào khu vực đóng quân của Quách Quỳ, một trận chiến đấu ác liệt đã diễn ra, hai Hoàng Tử đã hy sinh. Đúng lúc đó đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy đã bất ngờ vượt bến đò Như Nguyệt, đánh ồ ạt vào khu đóng quân của Triệu Tiết. Đai bộ phận quân Tống đã bị tiêu diệt. Chỉ trong một đêm, tinh thế xoay chuyển hoàn toàn Quách Quỳ và Triệu Tiết vội vã hạ lệnh rút quân tháo chạy về Trung Quốc.

      ngot

      BẾN ĐÒ NHƯ NGUYỆT

      Vậy, Như Nguyệt là trận quyết định số phận của quân Tống, cũng là trận quyết chiến chiến lược tuyệt vời của lịch sử dân tộc.Từ đây, tên tuổi và sự nghiệp của Lý Thường Kiệt mãi tỏa sáng trong sử sách và trong niềm tự tôn của dân tộc mãnh liệt của các thế hệ nhân dân ta.

      Hôm nay, đi dọc đê sông Cầu thấy âm vang chiến thắng Như Nguyệt như còn dậy sóng. Dù có trải qua biết bao biến cố thăng trầm nhưng chiến thắng lừng lẫy năm xưa vẫn hiển hiện cụ thể qua từng địa danh, di tích, đền thờ …Gần 40 di tích trên phòng tuyến Như Nguyệt đã lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Người đời vẫn tôn vinh triều Lý như một biểu tượng của kỳ tích huy hoàng trong sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ Quốc. Những lễ hội dân gian truyền thống được người dân các làng ven sông Cầu lưu truyền từ đời này sang đời khác như một cách giáo dục thế hệ trẻ người dân Việt Nam muôn đời ghi nhớ truyền thống hào hùng, anh dũng của ông cha.

      Thời gian qua đi trên dòng sông Cầu hiền hòa, bãi bể hóa nương dâu, dấu tích phai mờ nhưng trong tâm hồn mỗi người dân Việt ai chẳng có một bến sông quê chở bao hạt phù sa lấp lánh của quá khứ hào hùng. Và Như Nguyệt, bến sông đã từng làm quân thù kinh hồn bạt vía còn ghi dậm trí tuệ của người Việt sẽ chảy mênh mang giữa dòng sông quê hương ở Kinh Bắc nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung đến muôn đời.